雨中山水Vũ trung sơn thủy - non nước trong
mưa, là bài thơ hồi văn và liên hoàn: bắt đầu từ xuất phát điểm nào cũng có thể đọc thành câu,
ghép thành bài.
Từ 56 chữ, vua Thiệu Trị đã sắp xếp theo những trật tự về âm vận, niêm luật, đối ngẫu thành một
“kiến trúc toán học bằng ngôn từ” cực kỳ công phu, phải giàu năng lực ngôn ngữ mới thực hiện được.
Thể thơ này do chính hoàng đế Thiệu Trị sáng tạo.
Bài thơ Vũ trung sơn thủy cẩn xà cừ trên điện Long An (Huế), khoảng năm 1845.
Bấm vào ảnh để phóng to.
Mã để mở khoá
Hai dòng chữ khảm hai bên tấm gỗ là lời chỉ dẫn cách đọc của chính nhà vua:
用迴文體兼連環Dụng hồi văn thể kiêm liên hoàn
Dùng thể hồi văn kiêm liên hoàn
平昃四韻Bằng trắc tứ vận
Với bốn vần bằng, trắc
讀成七言五言Độc thành thất ngôn, ngũ ngôn
Đọc thành thơ bảy chữ và thơ năm chữ
六十四章Lục thập tứ chương
Sáu mươi tư bài
Nghĩa là: dùng thể hồi văn kiêm liên hoàn với bốn vần bằng trắc; đọc thành thất ngôn được 64 bài thể
7 chữ 8 câu, đọc thành ngũ ngôn được 64 bài thể 5 chữ 8 câu.
Bốn vần: Canh, San, Dạng, Chấn
Bài thơ phải được giải mã trên cơ sở xác định rõ bốn vần (bằng trắc tứ vận) là Canh, San, Dạng,
Chấn. Nhìn trên vòng chữ, bốn vần nằm đúng bốn đầu của tám nhánh:
庚Vận Canh vần bằng清 聲 榮 輕 thanh, thanh, vinh, khinhChữ trong cùng của các nhánh 2, 4, 6, 8
山Vận San vần bằng灣 山 潺 間 loan, san, sàn, nhànChữ ngoài cùng của các nhánh 1, 3, 5, 7
漾Vận Dạng vần trắc漲 浪 漾 向 trướng, lãng, dạng, hướngChữ ngoài cùng của các nhánh 2, 4, 6, 8
震Vận Chấn vần trắc汛 陣 潤 迅 tấn, trận, nhuận, tấnChữ trong cùng của các nhánh 1, 3, 5, 7
Mỗi bài thơ trên trang đều ghi bộ vần của nó ngay dưới bảng thơ.
Bóng dáng Dịch học
Từ hình thức và cấu trúc của bài thơ, có thể suy luận thêm về mối liên hệ với Dịch học trong kết cấu:
Thái cựcBài thơ trình bày theo một hình tròn tượng trưng cho thái cực
Lưỡng nghiHai loại vần: bằng và trắc
Tứ tượngBốn vần: Canh, San, Chấn, Dạng
64 quẻĐọc được 64 bài, như 64 quẻ trong Dịch học
Từ ngự chế đến điện Long An
Bài thơ được vua Thiệu Trị sáng tác vào năm 1845 và in trong sách Ngự chế thi tam tập御製詩三集, quyển 1, tờ số 30. Cũng khoảng năm 1845, bài thơ được
cẩn xà cừ trên điện Long An.
Ngự chế thi tam tập御製詩三集, tập thơ ngự chế của vua Thiệu TrịQuyển 1, tờ số 30: hai vòng thơ ghi 平韻七言五言體 (vần bằng) và
仄韻七言五言體 (vần trắc)Cẩn xà cừ trên điện Long An, khoảng năm 1845
Nguyên văn và bản dịch thơ của GS. Nguyễn Tài Cẩn
Bản dịch thơ của GS. Nguyễn Tài Cẩn cũng xếp thành vòng như nguyên tác, mỗi câu dịch đứng đúng chỗ câu
nguyên văn. Vì thế khi đổi thứ tự các câu để thành bài khác, bản dịch đổi theo mà vẫn thành bài. Chọn một
bài thơ ở phần trải nghiệm bên dưới, bản dịch này hiện trong thẻ “Dịch thơ · Nguyễn Tài Cẩn” dưới bảng thơ.
Trái: nguyên văn. Phải: bản dịch thơ của GS. Nguyễn Tài Cẩn, xếp theo đúng vòng ấy.
Trải nghiệm
Xem và chơiXem bài thơ
Xem: ngắm chữ bay, nghe đọc. Chơi: tự tìm ra 128 cách đọc.
Lấy chữ từChữ rời vòng tròn trên tấm cẩn xà cừ.
Bản chính
Bài thơ số 1 · Thất ngôn bát cú
Các bài khác lấy chữ từ bảng này: bài nào dùng chữ nào, chữ đó bay đi.
Bài thơ sẽ hiện ở đây
Bấm “Bài thơ số 1” ở trên để bắt đầu.
Chọn thể thơ
Đã xếp 0 / 56Điểm 0Đã tìm 2 / 128
Cách đọc
Phiên âm
Dịch thơ · Nguyễn Tài Cẩn
Bản dịch thơ của GS. Nguyễn Tài Cẩn, theo tư liệu của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế
Tổng kết
Kết luận
Bài thơ là một kiểu chơi chữ trí tuệ của hoàng đế Thiệu Trị. Từ 56 chữ, nhà vua đã cho ra đến 64 bài
thơ thất ngôn bát cú và 64 bài ngũ ngôn bát cú.
Trong đó có kiểu hồi văn với 32 cặp bài thất ngôn thuận nghịch độc, từ 16 điểm xuất phát đi theo 2 hướng;
lại có kiểu liên hoàn vô cùng phức tạp: liên hoàn thẳng, liên hoàn vòng quanh; liên hoàn một chiều, hai
chiều; liên hoàn đối xứng, liên hoàn không đối xứng.
Đó là một cách sắp xếp cực kỳ công phu, người thật có tài và vốn chữ nghĩa phong phú mới có thể làm được:
một di sản đỉnh cao của nghệ thuật ngôn từ Việt Nam thời trung đại.